Friday, April 21, 2017

Hoàng Triều - Xưa Và Nay

Huyền Sâm - Houston

Lại chộn rộn nôn nao đón Tết nữa rồi! Là các con chung của nước Việt Nam không ai mà không mang nổi lòng bâng khuâng, thương nhớ đến những kỷ niệm về Tết đả được hưởng ở quê nhà, vui buồn lẫn lộn.

            Xuân lại đến trên xứ lạ; giờ đây nhìn đám con cháu lớn lên, tất cả dân ly hương chúng ta tóc đả bạc trắng càng thắm thía nổi buồn xa xứ. Tôi cứ lẩn tha lẩn thẩn thấy mình như đánh mất một cái gì đó, muốn tìm kiếm lại không biết tìm ở đâu?  Đánh mất tất cả....

            Thời gian âm thầm lặng lẽ từ từ trôi đi, không bao giờ quay lại, làm cho mình tiếc nhớ không nguôi.Dù có lo nghĩ hay không lo nghĩ  thì con bò cũng trắng răng và mình cứ cái vòng lẩn quẩn lo thiên hạ sự dài dài.

            Xuân nầy xin viết vài giai thoại  về Hoàng tộc, các vị đọc lai rai đở nhớ Tết ở quê nhà, hỉ?

            Trước hết xin kể sơ về Đế Hệ Thi của Hoàng tộc.

            Triều Nguyễn, con vua Gia Long là  Nguyễn Phước Đãm tức vua Minh Mạng, trị vì 21 năm, có 78 Hoàng nam, 64 Hoàng nữ (ở với vua cha là Hoàng nữ, xuất giá lấy chồng là Công chúa). Hệ nhì chánh 

            Vua Minh Mạng đả đặt ra - Đế Hệ Thi – cho riêng Hoàng tộc

                        Miên -Hường – Ưng - Bửu -Vĩnh
                        Bảo – Quý – Định – Long - Trường
                        Hiền – Năng – Kham – Kế - Thuật
                        Thế - Thoại - Quốc – Gia – Xương

            Mổi chữ thứ tự đặt lót cho một đời con – Ý nghĩa rất đẹp

Miên = Trường cữu  ; Hường = Oai hùng  ; Ưng = Vang danh ; Bữu= Quý báu ; 
Vỉnh = Bền chí ;  Bảo= Khí dung  ; Quý = Cao sang ;    Định = Cương quyết ;
Long = Vương tướng  ; Trường = Không bao giờ hết.....

 Đây là họ của các “ mệ trai “ Còn họ của các “mệ gái “ thì cũng rườm rà lắm, có dịp sẽ trình bày các vị sau, hỉ? Nhưng Vua cha có ngờ đâu con cháu của Ngài bay đi khắp bốn phương, tám hướng  vì cuộc sống và vì cái họ lạ của vua cha mà khổ tâm vô cùng.

            Điển hình là tôi lúc nhỏ vào học trường các Soeurs, được kêu lên văn phòng. Soeur Hiệu trưỡng  hỏi tới hỏi lui nhiều lần tôi có phải là con nuôi không?

Vì sao Ba tôi họ Bữu, mẹ tôi họ Hồ, anh họ Vỉnh, chị  họ Huyền. Ba tôi phải đem gia phả tới giải thích về cái họ đứt khúc này đây; có lúc tôi cũng đả nghĩ tôi là con nuôi lượm ở trại mồ côi đem về.

            Chưa xong! Tên tôi dài quá, ghi trên giấy tờ không đủ, lại tới lui ghi ghi, chép chép nên bỏ rớt bớt chử cho tiện việc sổ sách nhà nước. Sau cùng tôi còn hai chữ, đầu họ, đuôi tên. Qua Mỹ, đầu tên, đuôi họ.

            Đến xứ người, tội và thương cho các anh và em tôi, khi sanh ra các con gặp rắc rối khi khai tên họ theo kiểu Đế Hệ Thi của vua cha. Nên các “mệ” thời nay của Hoàng tộc cứ cha họ Vỉnh thì con trai là Vỉnh....(X), còn con gái là Vỉnh Tôn Nữ....(Y)  để hợp lệ. Họ Hoàng tộc khác họ Tôn Thất; con, trai và gái cứ truyền nhau theo họ Tôn không thay đổi, đở rắc rối.

            Nói sơ một tí về Tôn Nhơn Phủ  Phủ Đệ.

            Tôn Nhơn Phủ khác Tôn Nhơn.

            Tôn Nhơn có 6  Hệ Chánh từ vua Gia Long là Hệ Nhất Chánh cho đến vua Đồng khánh là Hệ Sáu Chánh nhưng chỉ còn 5 Chánh vì vua Kiến Phúc không có con.

Người có họ trong - Đế Hệ Thi - của Hoàng tộc gặp nhau ở đâu cũng có thể nhận theo phẩm bậc, thứ tự lớn nhõ để thưa trình cho phải phép. Ví dụ, cố Bác sĩ Bữu Châu ở Houston coi hồ sơ, thấy có họ Hoàng tộc sau khi xem bịnh, BS hỏi thăm gia thế: ”Gia đình thuộc hệ nào Phủ đệ nào?” là ra ngay. Và cứ theo Hệ mà xưng hô. Nếu trên mình một Hệ thì gọi bằng Bác, dưới mình một hệ thì gọi bằng Chú không phân biệt tuổi tác lớn nhõ;

            Phủ đệ là nơi ông Hoàng ở như phủ Hàm Thuận, phủ  Thiện Nhân... là gốc tích của mình. Tôn Nhơn Phủ vừa là nơi lo lể nghi trông coi cúng tế, giổ kỵ đền thờ vua, giữ trật tự những lạm dụng, ngôi thứ của các “mệ”, con vua cháu chúa, vừa là cơ quan quản lý giáo dục giúp đở những người có họ trong Hoàng tộc.

Chuyện vui kể các vị nghe. Con vua đông lắm, có kẽ giàu, người nghèo. các Hoàng phi sanh con, Tôn Nhân Phủ ghi vào sổ lúc trưỡng thành được cấp cho một - Phủ đệ - ở riêng và tùy theo cấp bậc của mẹ, lớn hay nhỏ được vua cưng nhiều hay ít theo đó để cấp dưỡng.

 Môt ông Hoàng nọ, danh có mà ruột không, Một hôm “mệ” (danh xưng Hoàng tộc) thấy Tết đến nơi phủ  trống trưóc trống sau, “mệ” diện đồ lang thang đi ngang qua đám ruộng khoai lang. Mệ lấy chân hất từ từ để khoai lộ ra, mệ có dám ngồi xuống nhặt lấy đâu, sợ bị bắt gặp mất mặt, “dị òm” mần răng mà dám ngó ai đây, hỉ? Người trồng khoai từ xa trông thấy, chạy lại nói với “mệ”: “Mệ mần chi đó? mệ để con lấy một mớ khoai đem về luộc ăn chơi ba ngày Tết, mệ hỉ?”  Vậy mà “mệ “ nhà ta ngúng nguẩy te te vừa đi vừa kên mặt nói: “ Tao mô mà ăn ba cái thứ ni. Đi ngang tao hất mấy củ khoai đó lên chơi mà”; chỉ vì giữ thể diện của một ông Hoàng nên “mệ” đành đói meo. Tội ghê, hỉ?

            Vua cha lập Đế Hệ Thi cho dòng họ hay thì thiệt hay mà khổ cũng thiệt  khổ nhất là đám con cháu sau nầy.

            Hoàng triều danh giá của nước Nhật, các Hoàng tữ và các Công nương chắc cũng bị cái họ cái tên nó bó cho suốt đời như Đế Hệ thi của Hoàng tộc triều Nguyễn.

            Cuối tên Thái tử hay Hoàng tử Nhật là có chữ - “Hito” -  và cuối tên các Công nương, công chúa phải có chữ - “Aiko “ – như Thái tữ AruHito. Còn tên các thần dân xứ Mặt Trời, tên không kéo thêm khúc đuôi nầy được.

            Tôi có người bạn học không muốn lập gia đình với người Huế mặc dầu bạn là dân mắm ruốc chánh hiệu làng quê Nam Phổ chỉ vì câu ca dao:

 Con gái Nam Phổ ở lổ trèo cau (Nam Phổ nổi tiếng cau ngon)
              Con trai Dưong Nổ nhìn chộ thất kinh “ (Dưong Nổ là làng kế bên)

            Bạn và tôi với tuổi 14-15 rất mê chép thơ tình Nguyễn Bính và Xuân Diệu để làm tập thơ riêng. Chỉ vì Tết năm Con Khỉ khọt mà bạn tôi ra đi còn trẻ quá, không cùng tôi viết cho hết các bài thơ tình lãng mạn.  Tôi xin sửa lại vài lời cho vong linh bạn mình vui, hỉ?

             Hoàng tc Nam Phổ xiêm váy trèo cau  (Hoàng tức là con dâu vua)
               Hoàng tữ Dương Nổ nhìn chộ muốn yêu”!!!

            Thôi, chuẩn bị đón Tết, hỉ?

            

Mùa xuân Đinh Hợi  2007
Ngọc Tâm
Nguyễn Phước Huyền Tôn Nữ T. Sâm 


Thursday, March 23, 2017

​​Giai Thoại Về Nhạc Phẩm "Làng Tôi"​​

Phan Văn Thanh

Cựu Học Sinh Văn-Đức Lớp 12C Niên Khóa 1972 – 1975

"Làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh
Có sông sâu lờ lững vờn quanh êm xuôi về Nam
Làng tôi bao mái tranh san sát kề nhau
Bóng tre ru bên mấy hàng cau đồng quê mơ màng!.."



Làng Tôi
Sáng tác: Chung Quân
Hát: Thiên Kim & Mỹ Tâm
Video: Hoàng Khai Nhan

Năm ấy, đoàn hát Kim Chung lần đầu tiên có kế hoạch thực hiện bộ phim nhựa có tiếng nói (âm thanh). Để cho bộ phim thêm phần hấp dẫn, trang trọng và gây ấn tượng với công chúng trong buổi chiếu ra mắt, toàn bộ ê kíp điều hành, bầu sô, đạo diễn… đồng ý việc tổ chức một cuộc thi sáng tác bài hát làm nền cho phim với giải thưởng lớn cho tác phẩm được chọn. Đây cũng là bộ phim nhựa có âm thanh đầu tiên của ngành điện ảnh Việt Nam vào thời ấy (1952).

Cuộc thi được tổ chức rộng rãi trong công chúng, không phân biệt tuổi tác, chuyên nghiệp hay nghiệp dư…đã có nhiều nhạc sĩ tên tuổi cùng một số những người mới thành danh trong làng ca nhạc giải trí thời đó tham gia. Đề tài sáng tác là quê hương và con người Việt Nam.

Sau nhiều lần chọn lựa rất công bằng và vô tư, ban giám khảo đã mất khá nhiều thời gian bàn bạc, nhận xét rồi cân nhắc để đưa ra một sự chọn lựa chính xác, dù biết đó là một quyết định rất khó khăn. Cuối cùng, Ban tổ chức đã công bố, tác phẩm được chọn để trao giải là bài hát “Làng Tôi” của một tác giả vô danh tiểu tốt, cái tên nghe chừng như rất xa lạ trong làng ca nhạc Việt thời ấy đó chính là nhạc sĩ Chung Quân.


Nhạc sĩ Chung Quân

Bản nhạc Làng Tôi được chọn vì nó mang hơi thở của một vùng quê yên bình, lời lẽ cũng mộc mạc, dung dị thấm đẫm tình cảm của người dân Việt Nam, cho dù năm đó tác giả bài Làng Quê mới chỉ vừa 16 tuổi. Nhạc phẩm Làng Quê và cái tên Chung Quân ra đời từ dạo ấy. Nhờ giai điệu du dương, thắm thiết tình người tình quê của Làng Tôi cứ mãi bay xa mà cái tên nhạc sĩ Chung Quân trở nên nổi tiếng và đi vào lòng người.

Nhiều nhạc sĩ tên tuổi và giới văn nghệ thời đó có hơi ngỡ ngàng, nhưng mọi người đều công nhận bản nhạc "Làng Tôi" xứng đáng được nhận giải thưởng vinh dự đó.

"Quê tôi chìm chân trời mờ sương
Quê tôi là bao nguồn yêu thương
Quê tôi là bao nhớ nhung se buồn
Là bao vấn vương tâm hồn... người bốn phương..."

Bản Làng tôi đã giành được giải của công ty điện ảnh, đoàn cải lương Kim Chung ở Hà Nội để làm bản nhạc nền cho phim Kiếp Hoa.

Hành trình về phương Nam

Thế rồi, thế sự đổi thay theo mệnh nước nổi trôi. Năm 1954, Chung Quân cùng gia đình di cư vào Nam, định cư ở vùng Khánh Hội. Nhờ đã từng học sư phạm chuyên ngành về nhạc và danh tiếng của Làng Tôi, Chung Quân được Bộ Quốc gia Giáo dục của Đệ Nhất Cộng Hòa ưu đãi, cho dạy môn nhạc tại hai trường trung học Chu Văn An, và Nguyễn Trãi. Thời gian giảng dạy ở trường Nguyễn Trãi, Chung Quân là thầy dạy nhạc của nhiều nhạc sĩ nổi tiếng sau này như Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, Đức Huy, Nam Lộc... Cũng khoảng thời gian 1955 - 1956, ông có soạn bản hợp xướng Sông Bến Hải, theo một vài ý kiến thì đó là một trường ca có giá trị nghệ thuật, viết về cuộc di cư năm 1954, nhưng về sau không thấy phổ biến rộng rãi.

Trường Nguyễn Trãi năm ấy có cậu học trò nghèo nên buổi trưa thường không về nhà mà nghỉ lại ở trường cùng bữa ăn trưa là gói xôi mà mẹ cậu đã mua cho cậu đem theo từ sáng sớm. Thay vì nghỉ trưa, cậu học trò lại tha thẩn trong trường để rồi lắng nghe được câu chuyện tranh cãi giữa hai người thầy.

Trong một căn phòng, tiếng của vị giáo sư Hà Đạo Hạnh (cử nhân toán) đang ầm ĩ nói với nhạc sĩ Chung Quân:

- Trình độ học vấn của anh chỉ đáng là học trò của tôi thôi. Việc anh được dạy chung với những giáo sư như chúng tôi là một vinh dự cho anh, anh có biết điều đó không?

- Nhưng thưa giáo sư, nếu hỏi công chúng có biết nhạc sĩ Chung Quân là ai không? Thì chắc chắn nhiều người biết đó là tác giả của bản nhạc Làng Tôi. Còn như hỏi họ, có biết giáo sư Hà Đạo Hạnh là ai không? Tôi tin người ta không mấy người biết.

Câu chuyện đang đến hồi hấp dẫn, và cậu học trò cố áp sát tai để chờ nghe tiếp xem Giáo sư Hà Đạo hạnh trả lời ra sao, bỗng từ phía sau, một bàn tay lạnh lùng của thầy giám thị véo vào tai cậu học trò kéo đi chỗ khác! Và vì thế mà câu chuyện đành dở dang ở đây.

Rồi thời gian trôi qua, tưởng mọi chuyện đã rơi vào quên lãng. Nhưng không, nhạc sĩ Chung Quân đã không chịu bỏ qua dễ dàng như vậy, ông nhất định phải đòi lại món nợ danh dự này. Không công danh thà nát vói cỏ cây.

Nhạc sĩ Chung Quân sau đó đã quyết chí tiếp tục con đường kinh sử, ông ghi danh theo học và hoàn thành tú tài toàn phần, sau đó, ông lại tiếp tục việc học để đạt cho kỳ được mảnh bằng Đại học. Cuối cùng, ông đã tốt nghiệp cử nhân văn chương tại Anh quốc.

Đã mang tiếng đứng trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông

Nhớ lại câu chuyện ngày xưa, nhạc sĩ Chung Quân sao chép tất cả văn bằng mà mình có được gửi về cho giáo sư Hà Đạo Hạnh kèm theo lời nhắc nhở rất nhẹ nhàng lịch sự.

Thưa giáo sư Hà Đạo Hạnh, tất cả những gì mà giáo sư làm được thì Chung Quân tôi cũng đã làm được. Còn những gì Chung Quân tôi làm được thì giáo sư đã không làm được.

Viết tới đây tôi bỗng nhớ tới bài thơ của cụ Nguyễn Công Trứ có đoạn như sau:

Đã hẳn rằng ai nhục ai vinh
Mấy kẻ biết anh hùng khi vị ngộ
Cũng có lúc mưa dồn sóng vỗ
Quyết ra tay buồm lái với cuồng phong
Chí những toan xẻ núi lấp sông
Làm lên tiếng phi thường đâu đấy tỏ…

Nhạc sĩ Chung Quân đã đòi lại món nợ danh dự năm xưa một cách sòng phẳng bằng ý chí và lòng kiến nhẫn của chính ông. Rất lịch sự, tế nhị mà cũng rất quân tử. Không ồn ào, không gióng trống khua chiêng làm người khác phải ngượng ngùng, mất thể diện. Quả thật, chẳng ai biết trước được chuyện gì xảy ra trong cuộc đời.

Cậu học trò nghe lén câu chuyện ngày xưa sau này cũng theo cái nghề “gõ đầu trẻ”. Ông dạy Trung học đệ nhị cấp (cấp 3) ở miệt dưới tận tỉnh Bạc Liêu. Ngoài công việc dạy học, ông còn làm thêm nghề tay trái là viết báo, viết văn với bút hiệu Thái Phương. Sau biến cố 1975, ông nghỉ dạy và chuyển hẳn sang viết báo. Hiện nay, độc giả biết nhiều đến ông với bút danh nhà văn Đoàn Dự.

Đã có lần, nhà văn Đoàn Dự gặp lại thầy cũ là giáo sư Hà Đạo Hạnh và ông có hỏi vị giáo sư: "Thưa Thầy, sao ngày đó thầy lại nặng lời với Nhạc sĩ Chung Quân thế ạ?" Thầy trả lời: "Hồi ấy tôi có hơi nóng nảy nên đã quá lời!"

Mọi chuyện rồi cũng qua đi, người xưa giờ cũng đã trở về cùng cát bụi, nhưng câu chuyện thì sẽ còn mãi như một bài học, một tấm gương về cách đối nhân xử thế của người xưa vậy.

Phan Văn Thanh

Nguồn: Trường Tư Thục Trung Tiểu Học Văn-Đức