Tuesday, January 27, 2015

Tiền Phong 1

Tiền Phong 1

Niềm Tự Hào Của KQVN Ít Người Biết Đến

Đây là tên của một chiếc phi cơ do Không Quân Việt Nam chế tạo, dựa theo “blueprint” của hãng Pazmany ở California.

Đáng lý ra, câu chuyện này phải do những người trong cuộc viết lại, vì họ đều có mặt tại Mỹ bây giờ. Chúng tôi sở dĩ viết ra để tự mình giải quyết những thắc mắc mà không ai giúp đỡ. Nếu có viết sai thì mới có người lên tiếng để còn hiểu được sự thật bên trong.

Chiếc phi cơ TIỀN PHONG, có nghĩa là “ngọn gió đi trước”, dự trù sẽ trang bị cho Trường Phi Hành của Bộ Chỉ Huy Huấn Luyện của chúng ta, do ngân sách quốc gia Việt Nam đài thọ. Phần thiết kế dự án do Bộ Tư Lệnh Không Quân/Văn Phòng Tham Mưu Phó Tiếp Vận phụ trách. Công tác thực hiện được phân phối cho Bộ Chỉ Huy Kỹ Thuật & Tiếp Vận và các Sư Đoàn Không Quân cùng nhau đóng góp công sức của mình.

Chính Không Quân Đại Hàn cũng có ý định này. Lúc đó, Đại Tá BAE, sĩ quan liên lạc Đại Hàn tại Việt nam, cũng là sĩ quan cùng học khóa Chỉ Huy & Tham Mưu với Trung Tướng Tư Lệnh Không Quân và Chuẩn Tướng Tham Mưu Phó Tiếp Vận có tới xem phi cơ Tiền Phong của chúng ta, và đã xin chính phủ Đại Hàn cử một phái đoàn do ThiếuTướng Lee, Tham Mưu Phó Tiếp Vận Không Quân Đại Hàn hướng dẫn sang Việt Nam để xem cung cách việc chế tạo. Chính vị này cũng cùng học khóa Chỉ Huy & Tham Mưu với Trung Tướng TLKQ chúng ta. Dường như sau này, Đại Hàn đã chế tạo được phi cơ này để dùng vào việc huấn luyện.

Sau một thời gian bỏ nhiều công sức, rồi có một ngày, tại phi trường hết sức bận rộn như Tân Sơn Nhất (*), máy bay được mang ra bay thử. Không biết ai là người đầu tiên bay chiếc máy bay độc đáo này, nhưng biết rõ chỉ có ba người đã bay trên Tiền Phong 1. Đó là cố Thiếu Tướng Võ Xuân Lành, Trung Tá Lê Xuân Lan, và Trung Tá Nguyễn Tú.

Trước hết xin kể đến KQ Nguyễn Tú. Lúc đó đang phục vụ tại Văn Phòng Tham Mưu Phó Tiếp Vận, KQ Nguyễn Tú xuất thân khóa 55 Trường Võ Bị Không Quân Pháp, theo ngành kỹ sư cơ khí. Vào những năm 1964-65, anh sang Mỹ lấy bằng Master về Mechanical Engineering. Nói cách khác, anh Tú là người có khả năng vẽ ra một "blueprint" để "design" một máy bay loại đồ chơi này chứ không cần phải mua "blueprint" của người khác.

Chiếc Tiền Phong 1 là máy bay nhỏ, cánh thấp, trang bị bánh mũi, hai chỗ ngồi cạnh nhau như trên T-37, hai đầu cánh có gắn hai bình xăng (**). Về khả năng bay, cũng gần như chiếc T-34 của các quân trường Mỹ một thời gian, nhưng sau được thay bằng T-37 nên không còn sản xuất T-34 nữa. Tuy chưa được bay T-34, nhưng khi nghe các bạn kể lại, chúng tôi rất lấy làm thích, nếu KQVN chúng ta có được một máy bay như vậy để huấn luyện. Một chiếc không khó lắm thì không mấy tốt, vì sau khi tốt nghiệp, khóa sinh sẽ khớp khi lên một chiếc ở đơn vị chiến đấu khó bay hơn máy bay của trường. Nhưng chiếc T-34 có nhiều khả năng, như bay phi cụ, bay nhào lộn không thua gì chiếc T-6 nhưng dễ lái hơn nhờ bánh mũi. Tóm lại, ai bay T-34 rồi thì có thể mường tượng chiếc Tiền Phong 1 cũng có những khả năng tương tự. Phòng lái có mui plastic một mảnh úp lên trông rất xinh đẹp và có vẻ "phản lực" lắm.

Như trên đã kể, Nguyễn Tú có phải là một người lái bay thử không? Không! Nhưng Nguyễn Tú có mặt trên nhiều lần bay thử khi các hoa tiêu bay thử có điều không hiểu. Những khuyết điểm ghi nhận trong lúc bay thử đều đươc ghi chép cẩn thận để về sau sửa chữa kỹ càng. Nghĩa là Nguyễn Tú là kỹ sư trưởng dự án và là người theo dõi dự án từ A đến Z, từ tổ chức lớn nhất như Không Đoàn Tân Trang & Chế Tạo thuộc Bộ Chỉ Huy Kỹ Thuật & Tiếp Vận Không Quân đến các Không Đoàn Bảo Trì và Tiếp Liệu thuộc các Sư Đoàn Không Quân. Sở dĩ anh Tú phải bay, hay là được bay trong chuyến bay thử đầu tiên, tuy không hưởng lương phi hành, vì anh nắm vững kỹ thuật về máy bay này, vì anh nhận lãnh trách nhiệm hoàn thành phần chế tạo đúng chuẩn những gì thay đổi trong "blue print", vì anh là tinh thần của dự án.

Hoa tiêu bay thử chính là cố Thiếu Tướng Võ Xuân Lành, lúc đó là Tư Lệnh Phó Không Quân chúng ta. Ông xuất thân Trường Võ Bị Thủ Đức, theo học khóa 2 hoa tiêu tại Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang, cùng khóa với các ông Vũ Thượng Văn, Trần Đình Hòe và Nguyễn Khắc Ngọc. Dường như ông cũng đã tốt nghiệp khóa B-25 tại Hoa Kỳ.

Về nước,ông phục vụ tại TTHLKQ Nha Trang, chỉ huy phó TTHLKQ dưới quyền ông Từ Bộ Cam. Vào đầu năm 1964, ông chỉ huy Phi Đoàn 514 tại Biên Hòa, và Không Đoàn 23 khi thành lập Không Đoàn này, sau đó về Tân Sơn Nhất làm Tư Lệnh Phó Không Quân cho đến ngày cuối cùng. Ông đã bay trên nhiều loại máy bay của Không Quân Việt Nam, từ máy bay "Bà Già" MS-500, cho đến L-19, T-6, A-1H, T-37, F-5...

Thích nghiệp bay, khiêm tốn, anh dũng, hòa mình với mọi người trong nghề hay chỉ là thợ đá banh, anh quân cảnh thục bi-da, uống bia Quân Tiếp Vụ, hút thuốc lá Ruby Queen Quân Tiếp Vụ... Ông là người đơn giản, không thích gái vì ông đã có gia đình mà ông dấu rất kỹ đến độ nhiều người cứ tưởng là ông vẫn sống độc thân, mãi cho đến khi đã sang Mỹ rồi, người ta mới biết ông có một gia đình hoàn chỉnh. Ông làm nhiều, nói ít. Mỗi khi dẫn một phái đoàn thăm viếng đơn vị, đơn vị trưởng đơn vị được, hay bị thăm viếng, đều biết đây không phải là phái đoàn ăn chơi, nên ráo riết chuẩn bị để trả lời những vụ việc đúng theo nhiệm vụ ấn định cho tổ chức liên hệ. Ông giải quyết vấn đề đến nơi đến chốn, và mười lần như một, báo cáo cặn kẽ cho Tư Lệnh Không Quân, đầy đủ, về tình cũng như về lý.

Ông là người mà trên dưới Không Quân ai cũng thương mến và cảm phục. Trái lại, ngoài Không Quân, những người biết ông nhiều có lẽ là các đội bóng tròn của sinh viên, các hội bóng lão tướng quanh vùng Saigon, Chợ Lớn, các đội bóng ở những tỉnh lẻ khi tổ chức giao hữu khi ông còn là Tư Lệnh Không Đoàn 23 ở Biên Hòa. Ông thành thật với người và với chính mình. Khi không rõ điều gì thì ông hỏi cho hiểu rõ, không ngại người ta chê mình thiếu sót về năng khiếu hay kiến thức.

Nhờ vậy mà ông học nhanh, tiến bộ vững chắc trong ngành nghề của ông. Cũng như nhiều người, ông bay giỏi, nhưng khác hơn người là ông dùng tài năng của ông để phục vụ. Ông xong pha mọi chiến trường với vai một hoa tiêu không cần cấp bậc trên áo bay. Nhưng mọi người đều biết là ông khi ông lên tiếng trên máy vô tuyến trong những trường hợp cấp bách nhất. Nói về bay thử, đây là vụ đầu tiên, chứ không như Bob Hoover của hãng Northrop. Do đó, có nhiều điều chưa hiểu, ông thương lượng với anh hoa tiêu bay thử thứ hai là anh Lê Xuân Lan.

Lê Xuân Lan tốt nghiệp hạng nhì khóa 58A lấy tên Trần Duy Kỷ. Vì điểm tổng kết thua anh Chế Văn Nghĩa, nhưng điểm phi huấn của anh là số một. Anh được bổ nhiệm về Phi Đoàn 514 để được huấn luyện tiếp tục trên T-6G và A-1H. Từ đó anh là hoa tiêu khu trục chuyên nghiệp dưới cái lò đào tạo khó khăn này.

Sau này, anh có dịp theo học A-37 và đã được chọn theo khóa huấn luyện viên A-37. Anh lưu lại Hoa kỳ rất lâu để làm sĩ quan liên lạc Không Quân, giải quyết những vấn đề loại hay không loại khóa sinh trên A-37 tại các quân trường dạy lái. Về nước, anh được bổ nhiệm về Văn Phòng Tham Mưu Phó Huấn Luyện của Bộ Tư Lệnh Không Quân. Sau đó, anh đã bay trên F-5 và một thời gian ngắn được bổ nhiệm về Văn Phòng Phụ Tá Phòng Không tại BTLKQ. Khi thành lập Trung Tâm Phòng Không Bắc, anh được cử làm Giám Đốc Trung Tâm Phòng Không Bắc cho đến cuối cùng.

Cũng là một hoa tiêu can trường, đã từng lập nhiều chiến công trên mặt trận, mà lại có tài bay như một thiên phú. Nói ít, hiểu nhiều. Tự tin nhưng không khoe khoang. Có ngày anh hỏi tôi về những điều anh thắc mắc về chiếc máy bay Tiền Phong 1. Anh bảo dường như máy bay không chịu đáp khi kéo là, mà cứ trôi mãi trên không. Nếu gặp gió ngang thì bị bê ra ngoài phi đạo dễ dàng. Chỉ vì mặt cánh nâng quá to, khi sát mặt đất tạo ra một gối khí động (air cushion) làm chân đáp quá ngắn không chạm được đất. Anh còn nói khi "roll" thì không ngọt vì như có sức cưỡng lại. Chỉ vì độ nhị diện quá to để làm cho phi cơ vững vàng khi bị gió động sẽ tự sửa chữa về thế bay trước. Muốn giải quyết hai khuyết điểm đó, có lẽ điều dễ thực hiện nhất là chặt bỏ bớt hai đầu cánh. Nhưng làm thế thì rất tốn công, nhất là hai đầu cánh có gắn hai bình xăng, một mặt tăng thêm trữ lượng xăng, mặt khác giảm được sức cản do luồng gió xoáy (**) tạo ra ở hai đầu cánh. Có lẽ anh Lan đã thảo luận với kỹ sư Tú, nhưng kết quả vẫn giữ nguyên như cũ. Và sau nhiều lần bay thử, chiếc máy bay Tiền Phong 1 được lưu giữ trong hangar của Sư Đoàn 5 Không Quân cho đến ngày tàn.

Đó là những gì tôi biết được về chiếc Tiền Phong 1. Làm máy bay cho Không Quân Việt Nam ta là một hãnh diện, là một mơ ước cho nhiều kỹ sư chưa tốt nghiệp. Do đó, có một hôm, Quân Cảnh phối hợp với Cảnh Sát mang về Bộ Tư Lệnh Không Quân tại Tân Sơn Nhất một chiếc máy bay (không biết có nên đặt tên là Tiền Phong 2 hay không?!). Chiếc này giống như chiếc O-1A, có cánh cao và dài, trang bị một động cơ của chiếc mô-tô Honda 50cc. Trong phòng lái ta thấy một chiếc ghế ngồi thường ở các phòng trà bỏ túi. Cũng có tay lái, cũng có đồng hồ. Chất lợp cánh và thân máy bay làm bằng loại kim khí hợp chất nhôm lấy từ các vĩ kiện hàng (palette) để các kiện hàng có thể thả từ máy bay vận tải có cửa phía sau như C-130, C-123, C-119. Hợp kim này rất chắc chắn nhưng rất nặng. Cánh quạt lấy từ một máy bay O-1A.

Người chế tạo là một Trung Sĩ thuộc Sư Đoàn 5 Không Quân. Anh đã tốn nhiều công sức ráp lên chiếc Tiền Phong 2 trong một nhà chứa xe của anh, và ngày tốt đẹp đã đến, anh mang chiếc máy bay này ra xa lộ Đại Hàn (***) khoảng từ lộ Saigon-Tây Ninh nối liền với Quốc Lộ 4 từ Phú Lâm về Tân An. Vì cản trở lưu thông trên xa lộ Đại Hàn, nên Cảnh Sát kết hợp với Quân Cảnh mang tác giả và chiếc Thần Phong 2 về Bộ Tư Lệnh Không Quân. Chiếc này được lưu giữ ở ngay trước văn phòng của kỹ sư Tú ít nhất một tuần lễ. Thật là một thách đố cho các kỹ sư hàng không của chúng ta. Anh em tại BTLKQ thách nhau ai dám bay chiếc Tiền Phong 2, và mọi người đều hướng về vị Tư Lệnh của chúng ta mà... cười vỡ bụng.

Gman


Chú thích:

(*) Phi trường Tân Sơn Nhất vào thời điểm này có hai phi đạo song song, cứ mỗi 30 giây đều có một cất cánh hay hạ cánh. So với phi trường Kennedy ở New York cũng cùng một mức độ bận rộn, nhưng ở New York, chỉ có những phi cơ hàng không dân sự, có đi và đến với tốc độ ngang nhau, rất dễ điều hành hơn nhiều. Trong khi đó, tại Tân Sơn Nhất, nào là máy bay nhỏ như O-1A, có trực thăng UH-1 của Không Binh Hoa Kỳ đồn trú, có hàng không quốc tế lui tới, có A-1H của Biệt Đoàn 83, thật là linh tinh, nhất là khi vào tần số, cùng nghe một loạt ba thứ tiếng Việt, Anh, Pháp, trên ba hệ thống vô tuyến FM, VHF và UHF, thật là có một không hai.

(**) Hai bình xăng ở hai đầu cánh làm giảm đi các luồng gió xoáy thường được gọi là tourbillons de Karmann (do nhà bác học Von Karmann người Đức tìm ra), vì áp suất dưới cánh to hơn áp suất khí quyển ở trên cánh, nên ở đầu cánh, không khí di chuyển từ dưới lên trên. Chiếc MD-11 có một vách chận nhỏ cũng có tác dụng chận luồng khí quyển này. Trên Tiền Phong 1 có sáng kiến để bình xăng ở đầu cánh cũng làm giảm sức cản do các luồng gió xoáy Karmann.

(***) Xa lộ Đại Hàn là do Công Binh Đại Hàn giúp đỡ xây cất. Đó là một vòng đai ven đô (belt) để ta có thể từ miền Nam đi về hướng miền Đông hay miền Trung thì khỏi cần chạy qua Đô Thị náo nhiệt Saigon-Cholon, mà đi thẳng đến đường đi Tây Ninh hoặc đi Biên Hòa (xa lộ Biên Hòa). Lúc đó, xa lộ này tương đối ít xe chạy, ngoài xe nhà binh và xe Lambretta-500cc chở khách địa phương.

( Biên Hùng chuyển )


Source: Hải Ngoại Phiếm Đàm

Saturday, January 24, 2015

Không Bỏ Anh Em Không Bỏ Bạn Bè

Truyền Thống Quân Chủng KQ/VNCH

Không Bỏ Anh Em, Không Bỏ Bạn Bè


Chuyện tản mạn của Trần Đình Phước

Bất cứ ai, trong hoàn cảnh cá chậu, chim lồng mà không có thân nhân thăm nuôi tiếp tế sẽ cảm thấy hẩm hiu, tủi thân và bất hạnh. Cuộc sống bị giam cầm rất thiếu thốn, khó khăn mọi bề, chưa kể là mang đủ thứ bệnh tật, cũng như bị hành hạ từ thể xác đến tinh thần. Được thăm nuôi là một liều thuốc thần diệu để người đang bị tù đày được niềm an ủi, tăng thêm sức mạnh, hầu chịu đựng mọi đau đớn, nhục nhằn.

Tôi xin viết vài hàng, để nhớ lại một lần thăm nuôi tù cải tạo từ Sàigòn đi Long Khánh vào đầu năm 1983. Chuyến đi này do tôi tự nguyện, vì tôi đã thấm thía thân phận kẻ mồ côi không được ai thăm nuôi. Lúc đó hoàn cảnh gia đình tôi quá tang thương và bi đát! Ở bên ngoài không đủ ăn thì làm sao có thể cứu giúp được tôi.

Tôi đi thăm một Niên Trưởng Không Quân. Mặc dù, tôi không phải thuộc cấp của anh. Nhưng bạn bè tôi và tôi đều ngưỡng mộ: “Anh là một cấp chỉ huy nhân hậu, gương mẫu, đạo đức, thanh liêm, tử tế, thương nhân viên dưới quyền và được nhiều người kính trọng.”

Khi đó, vợ con anh đang ở vùng kinh tế mới, với bao nhiêu khó khăn, thiếu thốn, nên không thể nào có điều kiện để có thể đi thăm nuôi anh.

Chuyến xe khởi hành ở số 54 đường Hoà Hưng-Quận 10, vào lúc 5 giờ sáng. Chủ xe và cũng là tài xế tên Hạnh rất vui vẻ và thông cảm với bà con đi thăm nuôi. Vé xe cho mỗi người là $50.00 (bằng một tháng lương của giáo viên hay công nhân viên lúc đó), nhưng không hiểu sao ông ta chỉ tính tôi nửa giá. Có lẽ nhìn mặt tôi ông thấy tội nghiệp, nên thông cảm tính giá hữu nghị?

Xe chở chật cứng như nêm, hành khách phải ngồi chen chúc lên nhau. Hàng dành cho lối đi, ông cũng cố nhét thêm ba hành khách. Mỗi người đi thăm nuôi thân nhân. Ai cũng cố gắng mang theo các quà cáp càng nhiều, càng tốt. Nếu có người thân ở nước ngoài viện trợ thì quà cáp sẽ rủng rỉnh và chất lượng hơn. Riêng phần tôi, quà chỉ vỏn vẹn chứa trong một cái giỏ đệm, được đan bằng lát gồm: 2 ký đường tán loại Oval, 2 ký muối, 3 hũ chao, ít bánh kẹo, ít chà bông, 1 hũ dưa muối, 1 lon Guigoz đậu phụng, 1 ký mè đen, 1 ký tôm khô, 2 cây thuốc lá hiệu Hoa Mai, 2 bánh thuốc lào Cái Sắn,1 bịch thuốc rê Gò Vấp, nửa ký cà phê loại thường,1cây kem đánh răng,1 bàn chải, ít thuốc bổ, 20 viên Aspirine và 3 viên Fansida (thuốc trị sốt rét rất công hiệu gấp mấy lần Quinine.) Lúc này hoàn cảnh tôi cũng không khá gì! Tôi phải nhờ đến anh em trong gia đình. Kêu gọi một số bạn bè và người quen có lòng tốt, mỗi người góp một chút ít trong chuyến đi của tôi.

Khoảng đường từ Sàigòn đi Long Khánh chưa đầy một trăm cây số. Tuy nhiên, phải mất rất nhiều thời gian di chuyển vì phải qua nhiều trạm kiểm soát của quản lý thị trường và công an kinh tế. Xe chạy cứ một chập là phải ngừng lại, để cho họ leo lên lục soát. Họ cố tình đặt nhiều trạm kiểm soát dọc đường và lưu động để tìm bắt hàng lậu, hàng nhà nước cấm. Thật ra, mục đích chính là bắt bà con đi buôn chuyến phải nộp tiền mãi lộ, hay tìm cách tịch thu hàng hoá mà không cần cho biết lý do. Còn phần các tài xế đều phải “chung” một số tiền gọi là “đóng hụi chết hàng tháng”, tùy theo họ ấn định ở mỗi trạm.

Mỗi lần xe sắp đến trạm kiểm soát. Tài xế cho xe chạy rà rà, chầm chậm, rồi ngừng lại cách xa trạm khoảng năm mươi mét. Anh lơ xe vội vàng, lật đật nhảy xuống, chạy thật nhanh đến trạm, trên tay cầm một cuộn giấy báo vo tròn bằng ngón tay trỏ, cột dây thun sẵn, trong chứa một số tiền gọi là “bồi dưỡng”, và dúi thật nhanh vào tay em nhỏ bán thuốc lá lẻ đang đứng kế bên trạm. Khi em này ra dấu hiệu riêng bằng cách đưa tay lên đầu, nhân viên kiểm soát quay lại nhìn thấy tín hiệu “đặc biệt”là coi như xe đã làm xong nghĩa vụ. Lúc đó, họ lẹ làng vẫy tay cho xe đi, để còn tiếp tục kiếm chác với các xe hàng khác đang chờ đến phiên mình thi hành bổn phận.

Mỗi tháng các nhân viên ở trạm phải nộp một phần “Quà Cáp“cho cấp trên. Nếu không nộp đầy đủ thì sẽ bị thuyên chuyển đi nơi khác hay bị đưa về làm văn phòng chỉ ngồi chơi, xơi nước là coi như “trớt quớt.” Ai muốn đứng vững được chỗ này phải “cống nạp” một số tiền rất lớn cho thượng cấp. Sau đó, chỉ trong một thời gian ngắn thì đã gỡ cả vốn lẫn lời lại dễ dàng.

Tài xế xe nào không biết lễ độ thì họ sẽ tìm cách gây khó khăn, khám xét đủ thứ, bắt xuống hết hàng, có khi đến chiều mới được rời khỏi trạm. Đôi khi xe bị tạm giam, tài xế bị tịch thu bằng lái. Khi đó hành khách bị đuổi xuống hết, tự tìm xe khác tiếp tục đi. Đây là một hình thức tàn nhẫn, sách nhiễu, ngăn sông, cấm chợ gây rất nhiều phiền phức, và khổ sở cho người dân lương thiện.

Khi xe sắp đến thị xã Xuân Lộc, mọi người đều vui mừng, thầm cầu mong không còn gặp bất cứ trở ngại nào nữa, đế cho kịp giờ thăm nuôi. Nếu chậm trễ sẽ bị dời sang ngày hôm sau mới được thăm thì rất nhiêu khê. Phải nằm đường, ngủ bụi. Có một vài trường hợp, khi vừa đến trại, trình đơn thăm nuôi xong, thì được biết thân nhân đang bị thi hành kỷ luật. Thế là không được cho phép gặp người nhà! Lúc đó, phải để quà cáp lại ngoài cổng, nhờ giám thị mang vô giùm (đôi khi không đến tay người thân hoặc bị thất thoát nhiều thứ) và uễ oải ra về trong hờn căm, uất hận.

Ngồi bên cạnh tôi là một bà cụ khoảng ngoài sáu mươi tuổi, với dáng điệu mệt mỏi. Bà đang sắp xếp, kiểm tra và đếm lại các giỏ nylon chất đầy ắp quà và thuốc men trong đó.

Thấy bà cụ mang theo nhiều quà quá! Tôi hỏi bà:" Có ai đi theo phụ giúp bác không? Làm sao bác có thể mang hết các thứ ấy đến trại với sức của người lớn tuổi như bác?” Tôi nói tiếp: “Chắc là bác trai sẽ vui mừng khi nhận được hết các món quà này?” Bà chậm rãi trả lời: “Làm gì có bác trai mà vui với mừng. Tôi đi thăm thằng con giai tôi. Giời ơi! Nó cứng đầu, cứng cổ quá và tính tình lại hay nóng nữa. Nên giờ này vẫn chưa đươc người ta cho về. Trong khi bạn bè cùng lứa, cùng cấp bậc với nó đã được thả gần hết, đã có người vượt biên đến đảo, gửi điện tín về báo tin mừng cho gia đình đã đến được bến bờ tự do. Bác nghĩ mà tội nghiệp và thương cho nó, không biết đến bao giờ họ mới cho nó về sum họp với gia đình?”

Tôi lại hỏi tiếp: ”Thế anh ấy cấp bậc và chức vụ gì mà bị giữ lâu quá hở bác?” Bà trả lời: “Nó chỉ là Sĩ Quan Không Quân, cấp bậc và chức vụ tầm thường thôi! Đâu phải ông Tá hay ông Tướng gì cho cam. Nhưng tính nó hay cãi bướng và không biết nhẫn nhịn, nên nó tự làm khổ tấm thân. Mặc dù, gia đình bác đã nhiều lần khuyên nhủ Hãy im lặng là vàng.”

Tôi tiếp tục hỏi: ”Bác có thể cho cháu biết anh ấy tên gì và làm việc ở đâu không?” Bà cho tôi biết con trai bà tên T..., làm Sĩ Quan Chiến Tranh Chính Trị ở Bộ Tư Lệnh Không Quân. Khi bà vừa nói xong, thì tôi liên tưởng ngay đến T... Tôi liền diễn tả con trai bà, vóc dáng cao ráo, giọng nói rõ ràng, nửa Nam, nửa Bắc và khuôn mặt có nét hao hao giống bà. Tôi cho bà biết, con trai bà cùng khoá với tôi. Hồi ở quân trường. Anh và tôi ở chung Trung Đội. Anh nóng tính, lúc nào cũng như sắp gây gổ đến nơi. Anh em trong khoá chọc quê hay đùa giỡn môt tí là anh sẵn sàng cung tay, múa chân quyết ăn thua đủ. Nhưng may mắn trong suốt khoá học không xảy ra chuyện gì đáng tiếc! Quả đúng như bà nói!

Bà hỏi tôi:

- "Sao cháu được về sớm và bây giờ đi thăm nuôi ai vậy?”

Tôi trả lời với bà:

- "Do may mắn” và biết “Nín Thở Qua Sông” nên được về sớm. Nay thấy một đàn anh gặp khốn đốn, hoạn nạn, đang sống trong tuyệt vọng mà gia đình thì ở xa và hoàn cảnh gặp nhiều khó khăn, nên cố gắng tìm cách đi thăm một lần, để cho anh ấy giữ vững tinh thần, lạc quan chịu đựng, vì không biết đến bao giờ được về đoàn tụ với vợ con.

Chẳng những thế, đôi khi lại:

Đến đây thì ở lại đây,
Chờ khi xanh cỏ, xanh cây mới về

Bà rất ngạc nhiên vì bà đi thăm nuôi trên tuyến đường này bao nhiêu lần. Đây là đầu tiên bà mới gặp trường hợp thăm nuôi như vậy. Sau đó bà tháo kim băng nơi túi áo bà ba nâu, lấy ra hai tờ giấy mười đồng đưa cho tôi và nhờ tôi cầm biếu cho anh ấy, gọi là chút quà. Nhưng tôi lịch sự từ chối khéo và cám ơn lòng tốt của bà đã nghĩ đến Niên Trưởng của tôi cùng chung cảnh ngộ, giống như con trai bà.

Đang trao đổi câu chuyện với bà nửa chừng thì phải ngưng lại, vì tài xế Hạnh cho biết xe đã đến ngã ba Ông Đồn. Tất cả những ai đi thăm nuôi thân nhân ở hòm thư Z30A và B Xuân Lộc - Đồng Nai phải xuống xe, đem theo tất cả quà cáp, chuyển sang xe khác vào trại. Riêng, những ai đi thăm nuôi thân nhân ở hòm thư Z30C và D Hàm Tân – Phan Thiết, thì cứ ngồi yên trên xe, để ông ta chở đi tiếp.

Khi đó, tôi mới biết bà đi Hàm Tân thăm anh T... Tôi xuống xe, chào từ giã bà, không quên chúc sức khoẻ và nhờ bà chuyển lời thăm đến con trai bà.“Cầu chúc anh sớm được về với gia đình, để bà không phải lặn lội thân già đi thăm con.” Bà cám ơn tôi và cũng chúc gia đình tôi bình an, cũng như chúc cho Niên Trưởng tôi được sớm về sum họp cùng gia đình.

Nghe đâu khoảng đầu năm 1984, vào dịp Tết Giáp Tý, anh T… được trả tự do từ trại Z30C Hàm Tân - Thuận Hải, mà không phải “Nín thở qua sông hay Im lặng là vàng.” Niên Trưởng của tôi cũng được cho về từ trại Z30A Xuân Lộc - Đồng Nai, hình như cũng trong khoảng thời gian này. Hiện anh và gia đình đang định cư ở San José. Thỉnh thoảng anh em gặp nhau, ngồi tâm sự bên ly cà phê đắng của quán Vĩa Hè, H.O hay Paloma để tìm về một thoáng hương xưa, hầu quên đi quảng đời tị nạn, tha phương nơi xứ người, mà nơi đây: cái tình, cái nghĩa, sự tương kính và cách đối xử giữa con người với nhau đôi khi rất bạc bẽo, tàn nhẫn, trắng tựa như vôi!

Có một lần anh hỏi tôi: “Em chưa một ngày giờ nào làm việc với anh, mà sao lại đi thăm nuôi anh. Trong khi hoàn cảnh em, cũng như gia đình em đâu dư dả gì?” Câu hỏi này làm tôi nhớ lại lúc được vào thăm anh ở Z30A - Đội 5B máy cưa, tôi phải trải qua các thủ tục đầu tiên - tiền đâu từ lúc bắt đầu làm đơn xin đi thăm nuôi ở địa phương, chờ đợi chính quyền phường cứu xét chấp thuận cho phép đi thăm. Lo chuẩn bị thực phẩm cần thiết. Sau đó tìm hỏi chỗ mua vé xe, thu xếp mọi chuyện gia đình và khi đến được trại phải trải qua rất nhiều cam go, bị hạch sách, bị hoạnh hoẹ, bị điều tra, bị vặn vẹo, hỏi tới, hỏi lui và chất vấn đủ điều, đủ cách, vì tôi không phải là thân nhân ruột thịt của anh, mà tại sao lại đến đây. Trong khi đó, nghề nghiệp của tôi lại là cựu tù cải tạo với giấy tạm tha cho về và có thể bị đưa trở lại trại tiếp tục “cải tạo mút mùa Lệ Thủy” bất cứ lúc nào! Ngoài ra, họ có thể gây bao nhiêu khó khăn, rắc rối và tôi sẽ gặp nhiều bất trắc, nguy hiểm không lường được vì dám cả gan đi vào hang hùm.

Tôi đã trả lời với Giám Thị phụ trách cho thăm nuôi là:” Nhà nước luôn luôn khuyến khích thân nhân đi thăm nuôi cải tạo viên để họ an tâm học tập, tin tưởng vào chánh sách và đường lối của nhà nước. Hầu học tập cho mau tiến bộ, để trở về sum họp với gia đình.”

Tôi có làm đơn xin phép thăm nuôi, được chính quyền địa phương xác nhận. Nếu anh không đồng ý thì tôi ra về. Nghe tôi nói xong, anh ta liên lạc hỏi lại cấp trên. Cuối cùng, tôi cũng được giải quyết cho gặp mặt chỉ ba mươi phút, thay vì một tiếng.

Sở dĩ, tôi phải trả lời cứng rắn, quyết liệt, vì tấm lòng, vì tình chiến hữu, nên tôi điếc không sợ súng. Đã lỡ leo lên lưng cọp, nên tôi không còn sợ hãi và sẵn sàng chấp nhận bất cứ mọi tình huống, cho dù xấu nhất có thể xảy đến cho tôi.

Anh đã xúc động, nước mắt rưng rưng, vì quá bất ngờ, khi gặp mặt một thằng em trong quá khứ chưa hề nhận được bất cứ một ân huệ nào từ anh. Tôi chỉ cười và nói với anh: “Lá rách mà đùm lá nát trong lúc khó khăn, hoạn nạn” mới quý anh ơi! Xin anh hãy quên đi “Đừng bao giờ nhắc lại câu hỏi này nữa!”

Viết vài hàng để nhớ lại một lần trên chuyến xe đò thăm nuôi tù cải tạo. Tình cờ gặp thân mẫu bạn T..,Một bà Mẹ Việt Nam đúng nghĩa. Lúc nào cũng thể hiện tình mẫu tử thiêng liêng, trong những hoàn cảnh nghiệt ngã và bi đát của con mình. Luôn luôn kề cận chăm sóc, lo lắng, sẵn sàng chịu bao nhiêu khổ ải. Nghe đâu, bà đã mất ở Úc Đại Lợi cách đây mấy năm.

Cầu chúc bà yên nghỉ nơi cõi vĩnh hằng vì bà đã sống suốt một cuộc đời tận tụy, hy sinh cho chồng con. Cầu xin bà phù hộ cho các con cháu, những người chung quanh đưọc bình an và hạnh phúc.

Riêng, phần tôi đã làm được một điều đúng theo truyền thống của Quân Chủng Không Quân Việt Nam Cộng Hoà:

“Không Bỏ Anh Em - Không Bỏ Bạn Bè.” (*)

Trần Đình Phước
(San José – California - Cuối năm 2014)


(*) Tựa đề trích trong bài viết “Không Bỏ Anh Em, Không Bỏ Bạn Bè.” Tác giả là Nhà Văn Không Quân - Đào Vũ Anh Hùng.

Monday, January 19, 2015

Đời Phi Công

Lời giới thiệu của Trần Thanh Châu

Phương Toàn tên thật là Nguyễn Viết Toàn, sinh năm 1948 tại Dầu Tiếng - Bình Dương, trú quán Tân Hiệp - Rạch Giá. Gia đình ông tới Mỹ năm 1981, định cư tại Garden City, Kansas. Phục vụ trong Board of Director của phòng Thương Mại địa phương (Chamber of Commerce). Ông cũng là Advisory Board Member của Security Bank. Hiện nay ông là President and Owner của BT Plumbing Co. Inc. Trước 1975, ông đã phục vụ tại Phi đoàn Lôi Điểu 223 Biên Hòa và Phi đoàn Mãnh Sư 243 Phù Cát. Mới đây, nhân vụ các cựu trung uý khoá 69A họp khoá trên đất Mỹ, Phương Toàn đã viết bài “Trung Uý Nuôi Tôm”, kể chuyện nhà tù CSVN. Được em ruột là Tân Ngố, người viết bài "Bên Bờ Freeway", cổ động Viết Về Nước Mỹ, lần này ông kể chuyện “đời phi công”.



Đời Phi Công

Phương Toàn

Mấy anh em tôi đều khù khờ như nhau. Tân Ngố, thằng em kế từ Cali gọi điện thoại hỏi:

- Anh có biết gì về chương trình Viết về nước Mỹ cuả Việt Báo không?

- Có nghe nhưng không rành mấy.

Nó gạ:

- Nếu có rảnh, viết bài gửi sang, nó ký tên, gửi. Lỡ trúng giải, nó ở gần, đại diện lãnh và xài dùm cho.

Tôi nói, bài đăng báo là để cho người viết hay, tôi sang đây, tối ngày đi chôn ống cống, biết gì mà viết với lách. Nó "động viên":

- Có nhiều người viết hay, nhưng hay kiểu mèo khen mèo dài đuôi thì đọc không phê. Trong nhà mình, anh được tiếng là khờ nhất. Người khờ thì hay nói thật, mình không hay nhưng mình viết thực, đôi khi ngựa về ngược. Nếu trúng giải, anh em mình cưa đôi.

Sau khi cúp phone, vợ tôi lo lắng hỏi:

- Hai anh em ông không bàn chuyện gửi tiền về Việt Nam đấy chứ?

- Không, bàn chuyện viết bài đăng báo.

Vợ tôi tròn xoe đôi mắt bồ câu quá date kêu lên: - Giêsu Ma!

Nói đoạn, nàng đến gần rờ vào đầu tôi, bắt mạch xem có bị sốt hay không. Không lẽ từng này tuổi, tôi lại không viết nổi một bài luận văn sao. Tôi quyết định viết bài dự thi, cho dù biết chắc là bị loại nhiều hơn được chọn.

Hai vợ chồng tôi lấy nhau được hơn một năm thì vượt biên, vị chi đến nay định cư ở Mỹ được hai chục năm.

Ngày mới sang đến trại tị nạn, hăm hở lắm với những tin đồn được đãi ngộ tại Mỹ. Tôi là phi công của Không quân, vợ tôi là phụ tá nghiệm chế ở Dược khoa, chắc Mỹ chẳng bỏ rơi mình.

Đúng, Mỹ nó chẳng bỏ rơi hai vợ chồng tôi khi đặt chân đến phần đất mới này. Nó cho vợ tôi cái nghề rửa chén, và cho tôi một cái xẻng để làm helper đi đào đất chôn ống cống. Mỹ còn ưu ái hơn, cho chúng tôi mỗi đứa một số quần áo 'tốt', tha hồ lựa ở kho Salvation Army. Hai vợ chồng từ đó biết thân phận mình, vừa làm, vừa học và vừa góp tiền cắc để gửi về giúp gia đình.

Một hôm, hình như cám cảnh cái nghề mới của tôi, vợ tôi hỏi:

- Kể cho em nghe, tại sao anh lại trở thành phi công?

- Tại anh có chí tang bồng hồ thỉ, muốn làm Đường Minh Hoàng đêm đêm du nguyệt điện.

Đây là lần đầu tiên nói dối vợ, không hiểu tại sao vợ tôi lại biết, nó bĩu môi đáp:

- Xạo ke.

Thú thực đời phi công của tôi bắt đầu chẳng phải vì chí tang bồng, mà nó bắt đầu bằng một sự ngẫu nhiên.

Biết khả năng mình chẳng thế nào lái nổi chiếc máy bay. Vì di truyền sao đó, có thể tại ông già bị má tôi dợt cho quay mòng mòng hoài, nên cứ ngồi lên cái gì nhúc nhích là tôi nhức đầu, kể cả ngồi võng.

Tôi ở Rạch giá, thời học trò thỉnh thoảng được về thăm quê, cứ mỗi lần xe đò chạy tới Bình Chánh là tôi bắt đầu ói mửa như con gái có bầu. Nghĩ đến Không Quân, tôi cũng khoái lắm, khoái không phải vì bay bổng mà là vì khỏi lội sình. Nhưng cứ nghĩ sang Không Quân mà không bay được, thế nào nó cũng đuổi về Bộ Binh thì quê lắm.

Tôi gia nhập khóa 1/69 Bộ Binh, đang thụ huấn tại Quang Trung thì Không Quân sang tuyển người. Tôi chẳng tha thiết gì nhưng thằng Trương Phương Tuyên dụ:

- Ghi danh vào Không Quân, theo xe về Trung Tâm Y Khoa khám sức khoẻ, mỗi ngày mình chỉ cởi quần áo cho ông bác sĩ xem, nhảy tưng tưng mấy cái cho ổng đo, rồi vù ra phố chơi chiều về lại quân trường, đã lắm.

Tôi và nó ghi danh vào Không Quân và đúng như nó nói, hai thằng nhởn nhơ một tuần lễ đi khám sức khoẻ. Khám chẳng được là bao, nhưng chiều nào về ngang qua Ngã ba Chú Ía, hai thằng cũng không quên vẫy tay chào mấy nàng Kiều cho thắm tình Quân Dân cá nước.

Mãn khóa Quang Trung, tôi được chuyển về Thủ Đức học tiếp để chờ ngày ra trường. Một hôm chuẩn bị ra tuyến ứng chiến, tôi được lệnh trả quân trang để về Không Quân. Thằng Tuyên nói:

- Chỉ còn 6 tuần nữa ra trường, mang lon Chuẩn uý, bây giờ về Không Quân mang Alpha dài dài.

Hai thằng bèn hạ quyết tâm ở lại.

Tôi nói với ông Thượng Sĩ già:

- Thượng Sĩ, tôi không về Không Quân đâu.

Ông trợn mắt lên nạt:

- Giỡn chơi cha non, quân đội chứ ở nhà hay sao? Bộ muốn làm gì thì làm hả? Đến 8 giờ tối mà không ký giấy trả đồ, An Ninh nó ghép vô tội nội tuyến là bỏ mẹ.

Nghe nói tới An Ninh là tóc tôi dựng đứng đàng sau, tôi bèn trả đồ và lấy Sự vụ lệnh để về Không Quân.

Tôi được xếp học khóa 69A, toàn là những tay thông minh và gốc bự, như thằng Phan Huy Bách, ba nó là Thủ tướng Phan Huy Quát, thằng Hà Thúc Việt chi chòm ông Hà Thúc Ký, Hồ Văn Anh Tuấn con cháu Hồ Biểu Chánh (Nó thề độc là mình không có dính dáng gì đến Hồ Chí Minh). Chỉ có tôi là bần cố nông mê muội, ngay cả ông già cũng chết ngắc ngày còn nhỏ.

Ra đến Nha Trang tôi được niên trưởng chào đón và dạy dỗ rất chí tình. Khóa đàn anh, tôi gọi là niên trưởng; khóa lớn hơn tôi gọi là đại cồ; lớn nữa thì gọi là siêu đại cồ; rồi dần dà lên đến Thiếu uý Sinh viên sĩ quan, Trung uý, Đại uý... Có một ông Niên trưởng tự xưng là Đại tá sinh viên sĩ quan siêu đại cồ niên trưởng. Hôm mới ra Nha Trang ông bắt tôi chào con Đại bàng ở cổng, ông cầm khẩu carbine lên đạn lách cách tuyên bố:

- Bắn bỏ ba mươi phần trăm không cần làm báo cáo.

Tôi hoảng hồn. Té ra tôi chọn lầm binh chủng rồi, ở đây nó coi mạng sống con người rẻ như bèo.

Ông niên trưởng hay ví von thời gian đi lính của tôi ít hơn ngày ông khai bịnh lậu ở quân trường. Ông dạy tôi về tinh thần 'thượng mã' của phi công, ông nói ra trận, hạ máy bay địch, nếu phi công nó nhảy dù ra thì bay ngang, lắc cánh mà chào chứ không bắn pilot. Ông dạy về chữ: 'Không bỏ anh em, không bỏ bạn bè'. Ông nói:

- Tất cả mọi người đeo con rồng lên ngực, sống chết có nhau, là ăn cùng mâm, ngủ cùng giường.

Thằng Hà Thúc Việt cười phá lên, ông niên trưởng đến gần gằn giọng: - Ông này cười cái gì?

- Dạ cười ngủ chung với Tiếp Viên Hàng Không.

Ông ngạc nhiên nhìn nó, đi tới đi lui, ngẫm nghĩ, chợt ông đừng lại gằn giọng:

- Mặt ông ngu hơn thằng chăn trâu, Tiếp Viên nào cho ngủ chung mà mơ. Nó dí dỏm đáp:

- Dạ tại niên trưởng nói ai đeo con rồng lên ngực thì mình được ngủ chung một giường.

Ông bực lắm, với giọng kẻ cả, ông giải thích:

- Có nhiều loại rồng, rồng Không Quân là rồng khạc lửa, rồng Nữ Tiếp Viên là rồng...lộn.

Đến lượt thằng Tuyên phì cười. Ông quát:

- Ông kia cười cái gì?

Nó bí thế đáp:

- Dạ cười con rồng.

Ông trợn mắt hỏi:

- Con rồng có gì mà cười?

Tuyên đáp bằng giọng Huế:

- Dạ, tại nó ... lộn.

Cả hàng quân cười ồ lên, ông thấy mấy thằng đàn em này lếu láo qúa, ông phải ra oai kẻo chúng lờn, ông nạt tiếp:

- Rồng lộn có gì mà cười?

- Dạ con rồng lộn không có gì để cười, nhưng Nữ Tiếp Viên rồng lộn thì buồn cười.

Ông tức mình bắt hai thằng móc giò lên cửa sổ, miệng hô to một trăm lần câu: 'Nữ Tiếp Viên rồng lộn không có gì phải cười'.

Tưởng như chưa đã nư, ông đến gần một thằng thấp nhất khóa, gằn giọng hỏi:

- Tại sao ông đã xấu, mà lại còn dám lùn?

Thằng Tú ngơ ngác vài giây rồi đáp sảng:

- Dạ tại... ông già lùn.

Ông niên trưởng lại đi thêm một bài giáo khoa thư:

- Xe trước đổ thì xe sau tránh, cây đắng thì phải cố sinh trái ngọt, ông già lùn thì con phải cao, ông biết vậy mà còn ngoan cố cứ lùn. Móc giò lên đuôi bom cho tôi.

Giải quyết xong thằng Tú, ông bước sang đứa kế, ông hỏi:

- Ông tên gì?

- Khóa sinh Lê Văn Nãi, khóa 69A trình diện niên trưởng.

Ông nhìn thằng Nãi đẹp trai, cố kiếm một tội để ghép. Ông chửi:

- Gái bán Bar cũng biết ông thuộc khóa 69A, tôi hỏi tên, khai chi cả khóa. Ông họ Lê, biết Lê Long Đĩnh không?

- Dạ không.

- Mặt ông và mặt Lê Long Đĩnh giống nhau như đúc mà còn chối. Lê Long Đĩnh là vua dâm dật Lê Ngọa Triều, ông tổ mười đời của ông mà ông còn chối thì mai sau ông sẽ chối bỏ bạn bè. Từ nay mỗi lần trình diện, ông phải nói: Khóa sinh Lê Văn Nãi, cháu đích tôn Lê Ngọa Triều, ông quên thì thác cô hồn với tôi.

Ông niên trưởng chừng như thấy quá mất giờ để phạt từng thằng, ông dõng dạc tuyên bố:

- Chưa có một khóa nào ngu như khóa này, mặt ông nào cũng đần đần độn độn, tôi đếm từ một tới năm, không muốn thấy một cái chân ông nào còn đứng trên quả địa cầu.

Ông bắt đầu đếm, hàng quân như ong vỡ tổ, mỗi đứa cố gắng kiếm một vị trí để móc cẳng mình cao hơn mặt đất, không cứ là móc lên cái gì, miễn là đôi giày bốt không còn chạm mặt đất cho ông niên trưởng hài lòng.

Tôi cắn chặt hai hàm răng, sợ bật cười sẽ bị ông ra lệnh móc cẳng lên ngọn cây dương thì khốn.

Thấm thoắt một năm trôi qua, tôi được trở về Tân Sơn Nhứt học Anh Ngữ rồi đi Mỹ để học lái máy bay.

Đây là lần thứ ba tôi được leo lên chìếc máy bay. Hai lần trước đều ngồi bệt dưới sàn chiếc C119 thủng đít đi từ Sài Gòn ra Nha Trang và về lại, lần nào mưa cũng hắt ướt như chuột lột, lần này chiếc máy bay của hãng Braniff International không dột mà lại có ghế đàng hoàng, cô chiêu đãi viên đẹp hết cỡ, cô ta hỏi chuyện tôi nhiều, nhưng tôi không hiểu mấy. Một lần tới bữa ăn cô hỏi:

- Do you want coffee, tea or milk?

Nhìn chiếc xe cô đẩy, tôi hiểu ngay rằng cô hỏi tôi muốn ăn uống gì không. Tôi trả lời là Yes. Cô lại hỏi:

- You want some coffee?

Tôi lập lại là Yes, với chữ S kéo dài thêm, ý nói muốn lắm.

Cô đưa cho tôi một ly cà phê đắng nghét. Mỉm miệng cười duyên, chắc cô đoán chuyến phi cơ này đụng toàn thứ thiệt, không cần phải hỏi thêm thằng Việt, cô đưa cho nó một ly sữa tươi. Cô hỏi hai đứa:

- Do you want some sugar?

Tôi tưởng cô hỏi muốn thêm cà phê không, nên trả lời rất lịch sự:

- No, thank you Sir.

Uống xong ly cà phê đắng, tôi hỏi thằng Việt, sao mầy được uống sữa, nó trả lời cũng không hiểu tại sao. Tôi nói ở quê tao sữa bột pha ra toàn cho heo ăn, người uống đau bụng chết. Nó nói, họ đưa gì thì uống nấy chứ bộ chọn được sao? Tôi than phiền phải uống cà phê đắng, nó nói chắc Mỹ nó không uống đường, hôm nay mình sang Mỹ tập uống cà phê đắng cho quen.

Sang đến Lackland Air Force Base tôi được học những từ ngữ chuyên môn Anh ngữ và mãn khóa.

Lúc này trình độ Anh ngữ khấm khá lắm rồi, ông thầy Anh văn dưới quê bị tôi bỏ xa. Dù sao tôi cũng phải mang ơn ông vì ông đã dạy cho tôi biết những câu vỡ lòng, như chữ bacon nghĩa là thịt mỡ, hot dog là thịt chó nóng hổi và 'chase the girl' nghĩa là rượt con gái. Tôi cũng đã biết chắc chắn rằng đồng mười xu tuy nó nhỏ hơn đồng năm xu nhưng giá trị gấp đôi.

Cuối cùng ngày chờ đợi đã đến, đó là ngày chuyển trại để đi học lái máy bay ở Fort Wolter,Texas, tôi lo lắm, vì cái bệnh say gió của mình thế nào cũng bị rớt đài. Hôm đầu tiên ra phi đạo, thằng thầy cho tôi lên chiếc TH 55 nhỏ như cái trứng gà, lại không có cửa, nó bay lên tắp tít mây xanh nghiêng qua nghiêng lại phát khiếp, mỗi lần như vậy tôi phải uốn người vào trong cho máy bay thăng bằng trở lại, chỉ sợ mình rớt ra ngoài. Có nhiều lần tôi phải gồng tay lại nắm lấy thành ghế cho chắc. Sau gần một giờ biểu diễn, thằng thầy đáp xuống phi đạo, nhìn tôi cười cười. Tôi ra hiệu cho nó, ý nói phải ngừng ngay tại chỗ cho tôi nhảy xuống, bằng không tôi sẽ ói thẳng vào mặt nó. Thằng thầy đứng lại cho tôi ói. Tôi ói một cách thoải mái cho dù biết rằng cú ói này sẽ chấm dứt cuộc đời bay bổng cuả mình.

Lạ quá, sau khi đưa máy bay vào chỗ đậu, nó khen tôi chịu đựng giỏi và tiên đoán là tôi sẽ bay được. Tôi vận dụng khả năng Anh ngữ để hỏi là tại sao ói mà bay được? Nó cười cười trả lời:

- Chẳng có thằng nào mà không ói ngày nó bay thử đầu tiên cả.

Tôi mừng lắm, thì ra tôi ói là do thằng này nó chơi, có lẽ cái sự quay mòng mòng của má tôi nó không áp phê ở xứ Mỹ này. Chắc là được Chúa Phật độ trì, sau gần một năm tôi thi mãn khóa và đậu. Bạn bè có đứa xì xào rằng tôi đậu vớt.

Về nước và chuyển về Không đoàn 43 Chiến thuật ở Biên Hoà. Một hôm đi hành quân ở biên giới Kampuchia, thả Biệt kích Lôi Hổ. Đang mơ mộng nhìn con suối thì đạn AK nổ như bắp rang, phi cơ tôi như cục sắt rớt cái bịch xuống sườn đồi, tôi chẳng còn nhớ tí ti gì về phương pháp đáp khẩn cấp mà trường đã dạy. Nhìn ra ngoài, thấy chiếc phi cơ móp bẹp như con cóc tiá, cánh quạt chém cây rừng đổ te tua và chiếc cánh quạt cũng te tua chẳng kém ngọn cây rừng. Hai chiếc Cobra của Mỹ hộ tống bắn rocket rầm rầm làm tôi hoảng quá, rút vội cái chốt gắn khẩu đại liên cùng thằng xạ thủ phóng ra rừng chạy một mạch. Chạy khoảng 200 mét, tôi hoàn hồn chút đỉnh và mệt quá, tôi chọn chiếc gò mối cao, căng chiếc càng đại liên ra, chuẩn bị một xạ trường để chiến đấu. Thằng VC nào vô phúc nhào lên là nhất định sẽ sinh Bắc tử Nam. Tôi thấy thiếu một cái gì mà nghĩ hoài không ra, bỗng thằng xạ thủ hỏi:

- Thiếu uý, mình không có đạn à?

Lúc bấy giờ tôi mới nhớ, thì ra vác cây đại liên mà chạy, tôi quên phéng ngay thùng đạn còn nằm trên phi cơ, tôi vội tháo lấy chiếc nòng, rồi vứt cây súng M 60 vào bụi rậm và... chạy tiếp.

Tôi còn một cây P.38 và hai viên đạn, lúc này mới thấy nguy hiểm quá chừng, hai viên đạn thì làm được trò trống gì. Ngày lãnh súng, tôi được phát 6 viên đạn, ráp đầy các lỗ của trái khế trong ổ súng, tôi thấy hơi ít, hỏi ông Phi đoàn phó, ông nói:

- Pilot đi đâu cũng chỉ đeo có một cây súng và hai viên đạn, mày có 6 viên còn ít ỏi gì.

Nghe nói thế sau này mỗi lần đi bay gần bãi trống tôi hay bắn bia và cuối cùng còn lại đúng hai viên. Trên tay còn cái nòng súng M 60, tôi nghĩ, Việt cộng đội nón cối, mình lựa thế, dến cho một nòng đại liên bằng sắt lên đầu, có mà trời cứu. Nghĩ thế nên tôi vững bụng đôi chút. Cũng may lần này có hai chiếc gunship hộ tống và mấy chiếc H34 thả Lôi Hổ ở Lào đang bay về gần, xuống bốc bọn tôi về an toàn.

Thấy hai thằng Võ Trang bay vòng vòng có vẻ đỡ nguy hiểm hơn đi thả Lôi Hổ, tôi có ý định xin về bay trực thăng võ trang Gunship. Chưa kịp xin thì hên quá, xếp của tôi cho tăng cường vào Phi đội Gunship. Bay Gunship thì mệt một chút nhưng không phải lơ lửng trên ngọn cây đưa bụng cho chúng bắn.

Một hôm đi hành quân ở gần Bến Thế- Bình Dương, tôi phải yểm trợ cho Bộ Binh hành quân. Quân bạn cho biết họ ở sát bờ nam con rạch, địch ở phía bắc. Tôi nghĩ thầm, mấy cha Bộ Binh hay lừa mình, thôi thì bay cách hướng Nam con rạch hai cây số, bắn về phía Bắc, rồi cách con rạch một cây số ta vòng lại, nếu máy trục trặc thì cũng rớt lên đầu quân bạn. Tôi vào trục, nhắm mục tiêu bóp cò, rocket không nổ, tôi lượn ra mới hay mình bật lầm nút. Tôi nhào vào lại, bắn được hai quả rocket, một quả tịt, một quả nổ ở hướng nam con rạch, thì thấy đạn phòng không bay tứ phía, phi cơ bốc cháy ở bình xăng, tôi phải cho máy bay, bay ở vị thế nghiêng, cho khối lửa dạt ra ngoài, kẻo nó tràn vô phòng lái.

Theo bài bản học khi ở trường lái, nếu máy bay cháy, việc đầu tiên là phải bấm nút release cho hai bó rocket rớt khỏi thân tàu, kẻo nó bắt lửa nổ là bỏ mẹ cả đám. Tôi tính làm như vậy nhưng chợt nhớ lời ông già dặn hồi nhỏ: Đánh nhau, nếu bị thằng hàng xóm đấm vào mặt, không đấm lại được, thì lấy đất cày mà phang vào mái nhà nó, gặp thằng keo kiệt, tiền sửa mái nhà làm nó đau hơn bị đấm thiệt. Nên thay vì release hai bó rocket, tôi bèn bật nút cho nó nổ 'la phan'. Ôi thôi mười sáu quả còn lại thi nhau chui khỏi giàn phóng, quả thì nổ ở hướng bắc con rạch, quả thì bay tuốt sang bên kia sông Sài Gòn nổ ở tận mật khu Bời Lời. Tôi quẹo 180 độ và cho phi cơ nhào đại xuống con rạch gần đó.

Chiếc máy bay cày tung bùn như con cá thòi lòi phóng dưới bãi sình và tôi phóng vội ra ngoài. Cụ mẹ cuộc đời, tôi bị lừa, Bộ Binh nó cách con rạch tới hai cây số. Sau này hỏi lại, tôi được trả lời là nó sợ tài bắn cuả tôi, nếu không nói vậy lỡ tôi bắn trúng đầu nó thì sao. Mà nó hay thiệt, nếu nó ở phía nam con rạch như lời nó nói, thì quả rocket vừa rồi đã làm nó chạy té đái trong quần.

Cũng may số tôi còn lớn, thằng Gunship 2 kề kịp và bốc tôi lên an toàn, bỏ lại chiếc máy bay cháy mịt mù ven bờ suối. Về đến Phú Lợi, tôi mới hoàn hồn hẳn và nhận ra Phi hành đoàn thiếu một người. Tôi hỏi Cơ Phi là thiếu ai, nó nói thằng Xạ Thủ nóng quá phóng ra lúc còn ở cao độ hơn trăm bộ. Và cũng may mắn là nó rớt xuống cái bào và thằng C & C hành quân gần đó bốc lên rồi.

Hôm sau đơn vị cho biết, tôi sẽ được Anh Dũng Bội Tinh, công bắn mười sáu quả rocket, trúng hầm đạn VC gây nhiều tiếng nổ phụ, tôi còn được Chiến Thương Bội Tinh vì vết phỏng trên tay do quên mang chiếc găng tay chắn lửa Nomex, cộng thêm chiếc Phi Dũng Bội Tinh vì tôi bay hay quá, máy bay đã cháy mà còn lết cả mấy trăm thước mới chịu rớt.

Trời phú cho tôi cái tính hay sợ chết, sau lần chết hụt này, tôi nhắm xem có loại phi vụ nào ngon hơn bay Gunship hay không.

May thay, phi đoàn trưởng nói tôi có tướng 'sát phi'. Cả phi đoàn có không đầy hai chục chiếc phi cơ bay được, tôi đã nướng hết hai, ông không muốn mất thêm nữa, nên cho tôi bay những phi vụ liên lạc, và bay VIP thật là nhàn hạ.

Một hôm nhận lệnh bay cho Phủ Phó Tổng Thống, đáp ở bãi đáp VIP Air Vietnam. Tôi tưởng là mình sẽ chở tướng Kỳ hoặc bay theo chiếc Triệu Minh Vô Kỵ của ông, tôi đáp chỗ ấn định thì chẳng thấy tướng tá nào, chỉ thấy một ông già râu tóc bạc phơ cùng hai cô bé thơm như mít tố nữ, tháp tùng bằng một anh Đại uý với chiếc máy truyền tin PRC 25. Ông Đại uý hách xì xằng này ra lệnh cho tôi đi Trà Vinh. Tôi hỏi Trà Vinh là ở đâu? Ông trợn mắt nhìn tôi như nhìn một dị nhân, có lẽ ông nghĩ sao có thằng phi công ngu như vậy. Nhướng đôi lông mày, ông nói Trà Vinh nó ở Vĩnh Bình.

Tôi tưởng rằng mình sẽ bay vòng vòng ở Quân khu 3 nên hỏi: Vĩnh Bình có gần Phước Bình không? Ông hỏi: Phước Bình nào? Tôi nói Phước Bình ở gần núi Bà Rá trên Phước Long.

Ông chán đời nói: Mình đi Vùng 4. Tôi nói là không có bản đồ đi Vĩnh Bình ở Vùng 4 vì tôi hành quân ở vùng 3 Chiến thuật, ông nói cứ bay đi rồi ông chỉ. Tôi bay xuống Vĩnh Bình, ông liên lạc sao đó, Tỉnh trưởng ra đón vào tòa hành chánh, để lại tôi và hai em bé xinh xinh chờ ở phi trường.

Tôi hỏi:

- Hai cô đi đâu mà xuống đây?

- Dạ em đi ăn giỗ ngoại.

Bây giờ thì tôi biết là phi vụ cuả tôi có nhiệm vụ đưa hai cô gái về quê ăn giỗ ông ngoại.

Chiếc xe Jeep cuả tỉnh chạy ra chở thêm mấy người nữa, có ông già búi tó, có bà mặc bà ba. Ông Đại Uý lại ra lệnh cho tôi:

- Mình đi Chợ Lách.

Tôi lại hỏi:

-Chợ Lách nó ở đâu?

Ông chán nản nhìn tôi và lập lại câu cũ: - Bay đi rồi tôi chỉ.

Ông khoác tay chỉ tôi bay về hướng Vĩnh Long, qua con sông Mỹ Thuận, rồi vòng vòng một hồi, ông chỉ một con sông, bảo tôi theo đó mà bay. Đến một con rạch nhỏ, ông dòm xuống một xóm làng và bảo tôi đáp xuống một con đê, gần đồn Nghĩa Quân. Ông ra lệnh:

- Tắt máy rồi mình vào đây ăn giỗ, chiều về.

Bốn thằng Phi Hành Đoàn tụi tôi nhìn nhau, tôi không dám để chiếc máy bay nằm đây cho Nghĩa Quân coi để vào ăn giỗ, sợ vợ nó xúi hút xăng về nấu rờ sô hoặc bỏ muối vào bình xăng chút ra đề khó nổ. Tôi năn nỉ ông cho bọn tôi về Mỹ Tho hay đâu đó để kiếm cơm bình dân mà ăn. Ông nói đi đâu thì đi 4 giờ trở lại đón Phái đoàn. Tôi bực mình cho phi cơ bay về Vĩnh Long đáp xuống bãi nổi ở bờ sông trước dinh Tỉnh trưởng. Một anh Địa Phương Quân ra đuổi, nói bãi đó dành riêng cho tỉnh trưởng, thằng Cơ Phi cương ẩu:

- Tỉnh Trưởng lớn bằng Phó Tổng Thống không? Phi cơ này của phủ Phó Tổng Thống.

Anh Địa Phương Quân chạy vào trong, lôi ra một anh Đại Uý, anh này khúm núm như tôi là Phó Tổng Thống vậy. Anh hỏi tôi cần gì, tôi mượn một xe Jeep đi ăn cơm. Cơm xong tôi phanh ngực áo bay, tụt phẹc ma tuya tới gần háng cho mát, giăng võng nằm ngủ. Ông Đại Uý thỉnh thoảng ra dòm chừng, có lẽ ông thắc mắc, sao Phi hành đoàn của Phó Tổng Thống mà quá bình dân và xấu trai như vậy. Gần bốn giờ chiều, trở lại Chợ Lách đón phái đoàn. Hôm sau kể chuyện lại cho thằng Tuất nghe, nó trợn mắt:

- Mày điếc không sợ súng, vùng đó tụi tao ít thằng nào dám la cà vào, bay thấp thì AK nó bắn, bay cao thì hoả tiễn tầm nhiệt SA7 nó chào.

Tôi ngẫm nghĩ, phi vụ nào cũng nguy hiểm cả, như thế làm sao sống nổi cho đến ngày biết yêu. Tôi hỏi ông Phi đoàn Trưởng có phi vụ nào đỡ nguy hiểm hơn không, ông nói:

- Có, ở ngoài Phù Cát bay đỡ nguy hiểm hơn, vì toàn là cát và nước biển, có rớt cũng rớt êm êm.

Thực ra ông chỉ nói chơi thôi, vì tôi là thằng cuối cùng luân phiên thuyên chuyển sau bốn năm ở phi đoàn. Tôi ra Phù Cát, an toàn thật, vì thời điểm này Mỹ cắt viện trợ, một tháng chỉ bay vài phi vụ, còn lại là chuyên học nhảy đầm và luyện Tae Kwon Do.

Đến hôm di tản chiến thuật về Nha Trang, tôi đang uống cà phê ở Câu lạc bộ thì nghe súng nổ tứ tung, chạy ra ngoài thấy lính Không Quân chạy đầy phi đạo, tôi vội chạy ra chiếc phi cơ cuả mình, còn cách khoảng 20 mét thì thấy nó tự động vọt lên trời, bên trong đen ngòm là người. Quýnh quá, tôi vòng ngược trở lại, thấy một chiếc phi cơ cũng đầy là lính, trên ghế lái có một anh mặc đồ bay ngồi đó, chiếc ghế trưởng phi cơ còn trống, tôi phóng lên ngồi, cả phi cơ đều nhìn tôi. Tôi hỏi ông phi công:

- Vọt đi chứ cha, nó tràn ngập bây giờ.

Anh phi công nói:

- Em bay không được.

Tôi vội chụp cần lái, mở máy, cho phi cơ vội vọt lên trời và theo đoàn phi cơ hướng về Nam, đáp xuống Tân Sơn Nhất. Tôi hỏi ông phi công ngồi bên trái:

- Ông là phi công gì mà không biết bay?

- Dạ em chưa ra trường, với lại hôm nay máy bay nhiều quá, mà em thì không có Check list để mở máy.

Đó là phi vụ cuối cùng cuả tôi, nó chấm dứt cuộc đời bay một cách vô duyên, có lẽ cũng giống như nó đã bắt đầu cuộc đời bay bổng vô lý cuả tôi. Nó không bắt đầu bằng mộng mây trời và cũng không kết thúc bằng những chiến công oanh liệt.

Phi công của Không Quân toàn là những anh hùng, những người hào hoa và bay bướm, không hiểu tại sao lại đọa ra một thằng như tôi, vừa cù lần vừa dấm dớ. Hơn 5 năm khoác chiếc áo bay, tôi chẳng làm được cái gì nên tích sự, ngoại trừ lừa được một người con gái khờ, đó là má bầy trẻ của tôi bây giờ. Cho tới nay bà vẫn tin là tôi ngon lắm, hơn hẳn những thằng phi công khác, cho dù cứ mỗi lần tôi gáy, thì theo thói quen, bà vẫn đồng ý bằng câu trả lời cũ 'xạo ke'.

Hiện nay đã 'An cư lạc nghiệp' tại Mỹ, tuy cũng rất cùi đày chẳng kém ai, nhưng vào cuối tuần, tôi cũng hay la cà ở quán cà phê nghe anh em bàn chuyện thế sự.

Quán cà phê chỗ tôi ở, có đủ mọi chuyện dài 'Nhân dân tự vệ', từ những ông đội đá vá trời một thuở, bây giờ làm Lã Vọng ở nhà ăn trợ cấp, đến những người biết quá nhiều nghề, chẳng nơi nào xứng đáng cho ông làm, bèn đi thụt bi da chờ thời. Tôi biết mình từng là pilot xạo ke thủa nọ, không dám gáy nồ trước đám đông, chỉ ngồi nghe kể chuyện thế thái nhân tình.

Hôm qua, có một ông sau khi kể thành tích long trời lở đất, thấy tôi ngồi im như Bụt, ông hỏi:

- Thế chú ngày xưa làm gì?

Bản tính bần cố nông của tôi tự nhiên vùng lên, không tự chế được mình, tôi gáy:

- Bay cho Phủ Phó Tổng Thống.

Cả quán bi da quay lại nhìn tôi, có nhiều câu bàn tán nhưng một câu tôi thấy thấm thía nhất do một anh thanh niên nói: “Xạo ke.”

Chuyện đóng góp vào cuộc chiến của tôi không có gì đáng ghi vào công trận, mà toàn là những chuyện làm mất mặt pilot và binh chủng. Tôi chỉ mong các phi công của Không lực thứ lỗi cho vì tôi bắt đầu nhận ra chân lý: 'Nhận cái dở mình có, hay hơn đánh bóng cái hay mình không có'.

Tuần rồi dự lễ ra trường của đứa con gái, nhìn lên câu khẩu hiệu mà lớp 2001 dùng làm kim chỉ nam cho cuộc đời tương lai của chúng, tôi suy nghĩ mãi. Câu nói rất giản dị của Tony Arata: 'I will do my dreaming with my eyes wide open and I will do my looking back with my eyes closed'.

Tuy phải lưu vong ở quê người, ngày ngày đóng vai thằng phu ống nước, kiếm đồng bạc nuôi con ăn học, khó có hy vọng trở về quê cũ cầm lại cần lái chiếc trực thăng, tôi vẫn cầu mong sao, kiếp sau nếu có làm người, tôi sẽ cố gắng trở thành một phi công đàng hoàng hơn để xứng đáng với lời hát: 'Phi công ra đi lướt trên ngàn mây gió'.

Tôi cũng mong sao tập thể phi công không buồn lòng khi có một thằng 'Pilot ke' dám kể chuyện 'Xạo ke' mà tỏ ra chẳng 'ke' gì về dĩ vãng, ở cái mảnh đất tạm dung này. Thật là đa tạ, đa tạ.

Phương Toàn

Saturday, January 3, 2015

Thursday, January 1, 2015

Brain Droppings of a Skeptic

Brain Droppings of a Skeptic

Dr. Neil DeGrasse Tyson





Khi Bước Chân Anh Tới

Khi bước chân anh tới
Lá hoa đồng mỉm cười
Bình minh thay bóng tối
Rộn chim hót khắp nơi

Khi bước chân anh tới
Em: Công chúa ngủ rừng
Được tình cờ đánh thức
Bởi dạ vũ mùa xuân

Khi bước chân anh tới
Ly cà phê không đường
Ngọt vành môi bối rối
Ngơ ngác một nụ cười

Chỉ một mình em biết
Chỉ một mình em hay
Lạo xạo bước chân vang
Với lòng em bỏ ngỏ

Bước chân anh tới đó
Cảm nhận thật rõ ràng
Hòa nhịp tim đập vang
Là tiếng lòng dàn trãi

Chẳng có gì để nói
Lộng lẫy một sắc trời
Tiếng chân anh tìm tới
Cả thế giới đổi dời

Xanh Thỵ Nhạn Trắng